This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

Chợ trời học thuật ở China

China đã có một bước nhảy vọt trong việc xuất bản các ấn phẩm khoa học. Năm 2002, các nhà khoa học China công bố 41,417 bài trên các tập san quốc tế trong danh mục ISI; năm 2012, con số này là 193,733, tức tăng gấp 4.7 lần so với mười năm trước. Đó là một tiến bộ có thể nói là ngoạn mục. Nhưng bao nhiêu trong số ấn phẩm này là thật và bao nhiêu là dỏm thì chẳng ai biết. Nhưng với “truyền thống” giả dối và làm hàng giả thì những gì xuất phát từ China rất ư là khó tin. Thật vậy, một bài báo trên Science mới đây cho thấy ở China đang hình thành một chợ trời học thuật, một trò gian lận khoa học ai cũng phải lắc đầu vì tính … sáng tạo của người Tàu. 


Áp lực công bố quốc tế ở China có thể nói là rất lớn. Nghiên cứu sinh ở các đại học trước khi viết luận án cần phải công bố ít nhất một bài trên các tập san ISI hay SCI (Science Citation Index). Ngay cả nghiên cứu sinh khoa học xã hội cũng phải công bố ít nhất một bài trên các tập san SSCI (Social Science Citation Index) mới được phép đệ trình luận án.  Các giảng viên đại học phải có công bố quốc tế, và phải đứng tên tác giả đầu hay tác giả chính, mới được xét duyệt đề bạt các chức danh khoa học.  Áp lực đặc biệt nặng nề trong ngành y. Trong ngành y, ngay cả bác sĩ cũng bị ép phải công bố nghiên cứu khoa học, bất kể khám bao nhiêu bệnh nhân mỗi năm!  Nói tóm lại, ở China ngày nay, công bố quốc tế đã trở thành một thước đo chuẩn, một chuẩn mực vàng để giới học thuật phải tuân theo.

Vì áp lực công bố quốc tế quá lớn, nên các dịch vụ viết mướn nở rộ ở China.  Từ viết mướn, các công ti này tiến lên một bước nữa là cung cấp dịch vụ nghiên cứu và công bố quốc tế.  Sự phát triển quá nhanh đến mức độ kĩ nghệ viết mướn trở thành một chợ trời. Trong cái chợ trời học thuật này, nhà khoa học không làm gì cả mà vẫn có tên trong bài báo khoa học. 

Tập san Science vừa có một bài phóng sự điều tra cái chợ trời học thuật ở China rất đáng đọc.  Phóng viên của Science, trong vai một “khách hàng” đang cần có bài báo khoa học, tìm đến công ti Wanfang Huizhi.  Công ti này giải thích rằng họ là môi giới cho một nguồn khác; nguồn đó đã có sẵn bài báo khoa học, và họ sẵn sàng bán cho khách hàng với cái giá 14,800 USD.  Nếu muốn đứng tên tác giả chính thì cái giá là 26,300 USD.  (Lương của một assistant professor ở China là khoảng 5,000-10,000 USD/năm).  Dĩ nhiên, sau khi mua bài báo, khách hàng sẽ đứng tên tác giả đầu của bài báo khoa học.  Nói cách khác, tác giả này không làm nghiên cứu gì cả, mà chỉ bỏ tiền ra mua bài báo!  Có công ti còn quảng cáo một cách bắt mắt rằng công bố trên các tập san SCI mà không cần nghiên cứu gì cả:

It’s unbelievable: you can publish SCI papers without doing experiments
(Điều khó tin: bạn có thể công bố bài báo trên SCI mà không cần làm thí nghiệm)

Có công ti còn quảng cáo rằng họ có “quan hệ” với ban biên tập của các tập san khoa học nên có thể đảm bảo công bố bài báo một dễ dàng. Dĩ nhiên là phải với một cái giá.  Một công ti khác (có tên là H&G IES) cho biết họ có thể lo từ A đến Z, tức từ việc thu thập, phân tích dữ liệu đến công bố, và khách hàng không cần làm gì cả.

Ngay cả bài báo sau khi đã qua bình duyệt và sắp công bố, họ vẫn có thể kinh doanh.  Các công ti sẽ đem bài báo đi “chào hàng” rằng bài báo sắp được công bố, và họ sẵn sàng thêm tên tác giả với một cái giá nào đó, và giá cả tuỳ theo vị trí trong bài báo. 

Đọc qua bài phóng sự, chúng ta phải rùng mình và kinh ngạc cách làm tiền của các “công ti học thuật” của China. Thật ra, phải nói là họ có những cách kinh doanh rất sáng tạo và độc đáo mà người tử tế và có đạo đức khoa học không thể nào nghĩ ra. Có công ti còn cho biết họ có chi nhánh ở Pháp, Đức, Nhật, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, và Việt Nam. China là một nước lớn, và hiện nay đang đứng hàng số 2 về số bài báo khoa học. Những công ti này đang làm vẩn đục khoa học China và quan trọng hơn là gây tác hại đến khoa học thế giới. Việt Nam thường hay bắt chước theo China, nên những giả dối và suy đồi đạo đức khoa học chúng ta đang thấy ở China có thể sẽ làn truyền sang Việt Nam.

Tham khảo:
(1) China’s publication bazaar. Science 29/11/2013.

Thứ Bảy, 30 tháng 11, 2013

Thông báo lớp học “Cách viết bài báo khoa học và công bố quốc tế”


Tôi rất hân hạnh thông báo cùng các bạn và đồng nghiệp là đầu tháng 1 năm 2014, Viện Nghiên cứu Y học Đinh Tiên Hoàng sẽ tổ chức một lớp học về cách viết bài báo khoa học và công bố quốc tế.  Đây là lớp học thứ hai (lớp thứ nhất ở Đại học Y Hà Nội năm 2010) mà tôi phụ trách ở Việt Nam. Tôi hi vọng rằng qua lớp học này VN sẽ có thêm bài báo khoa học trên các tập san quốc tế.


Một trong những khó khăn nan giải nhất ở đồng nghiệp khoa học ở Việt Nam là vấn đề viết bài báo khoa học và làm thế nào để công bố kết quả nghiên cứu trên các tập san quốc tế.  Khó khăn này là một yếu tố, một rào cản để khoa học VN có mặt trên trường quốc tế nhiều hơn.  Qua hợp tác và tương tác với nhiều đồng nghiệp trong nước, tôi đã biết được nhu cầu và những khó khăn, nên đã thiết kế một chương trình cho lớp học.  Thật ra, lớp học sẽ tổ chức theo mô hình hội thảo để các học viên tương tác nhiều hơn với người giảng. Để tăng phần tương tác, chúng tôi sẽ mời một số đồng nghiệp từng có công bố quốc tế ở trong nước đến chia sẻ cùng các học viên. Chi tiết lớp học như sau:

Địa điểm: Trung tâm phát triển phụ nữ, số 20 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội.

Thời gian: 7/1/2014 đến 9/1/2014

Chương trình học gồm 12 bài giảng như sau:

1. Tại sao công bố quốc tế?
2. Cách đặt tựa đề bài báo  
3. Cách viết tóm tắt (abstract) 
4. Cách viết phần dẫn nhập (introduction) 
5. Cách viết phần phương pháp (methods)
6. Cách viết phần kết quả (results)
7. Cách trình bày biểu đồ và bảng số liệu 
8. Cách viết phần bàn luận (discussion)
9. Cách trả lời bình duyệt (peer review) và viết thư cho ban biên tập 
10. Tại sao bài báo bị từ chối
11. Tiếng Anh trong khoa học  
12. Văn phong khoa học 

Đây là loạt bài giảng đầy đủ nhất cho đồng nghiệp Việt Nam. Tôi có thể nói như thế vì đã xem qua vài bài giảng của đồng nghiệp nước ngoài trước đây, và nghĩ rằng chương trình này là đầy đủ nhất và phù hợp nhất cho người Việt Nam.

Xin lưu ý: vì công bố quốc tế chủ yếu là tiếng Anh, nên tất cả slides đều soạn bằng tiếng Anh. Dĩ nhiên, tôi sẽ giảng bằng tiếng Việt, và tôi nghĩ đó là một “lợi thế” mà không có đồng nghiệp nước ngoài nào có được.  Dù sao thì vẫn có những điều mà chỉ người mình với nhau mới có thể chia sẻ được.  :-). 

Đối tượng học viên sẽ được mở rộng cho bất cứ ai muốn học về cách viết và cách công bố.  Tôi nghĩ các bạn giáo sư, phó giáo sư, giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên là những thành phần chính. Tôi từng giảng về đề tài này ở Thái Lan và thấy có nhiều giáo sư đến dự. Những giáo sư này đã từng có công bố quốc tế, nhưng có lẽ họ muốn đến nghe để học hay để biết một cách nhìn khác, một bài giảng khác, và cũng là cách để động viên nghiên cứu sinh của họ.

Ghi danh: Các bạn muốn theo học cần phải ghi danh trước ngày 15/12/2013. Học phí chỉ 1,2 triệu đồng (vì Viện tìm được hỗ trợ từ nguồn khác nên có thể giảm học phí). Mỗi học viên sẽ được tặng một cuốn sách “Từ nghiên cứu đến công bố” của tôi để làm tài liệu tham khảo.

Liên lạc: Các bạn có thể liên lạc Ánh, số điện thoại 0972-095-132 hoặc email anh.nguyen@dthim.org.vn để biết thêm chi tiết và ghi danh. Chi tiết khác có thể xem qua website của Viện Nghiên cứu Y học Đinh Tiên Hoàng.

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013

Lai căng ?


Đọc báo Việt Nam có nhiều khi làm người đọc như tôi cảm thấy … nhức mắt. Nhức mắt vì những chữ nữa Tây nữa Ta chẳng vào đâu cả. Chẳng hạn như mới đây rộ lên những chữ như “hotgirl”, “hotboy”, “teen girl”, “teen Việt”, “showbiz”, v.v. Những chữ mà ngay cả tôi (đang định cư ở nước nói tiếng Anh) cũng cảm thấy khó hiểu. Kho tàng ngữ vựng tiếng Việt cũng có những từ với ý nghĩa tương đương, nhưng tại sao giới báo chí không dùng, mà phải nhờ đến tiếng Anh? Tôi thật không hiểu nổi, nên phải ghi lại vài dòng gọi là … nhật kí.


Bỏ qua những trường hợp đơn lẻ, một xu hướng có phần nghịch lí là người Việt ở nước ngoài thường trân trọng tiếng Việt hơn là người Việt ở trong nước. Một phần có lẽ do phản ứng tự nhiên khi đương đầu và cảm thấy bị “đe doạ” bởi một tiếng ngoại quốc và sợ tiếng mẹ đẻ sẽ bị mai một, nên cộng đồng người Việt ở nước ngoài thường có những chương trình gìn giữ tiếng Việt. Trong khi đó ở trong nước người Việt ở trong nước thì có vẻ rất ham chạy theo “thời trang” tiếng Anh. Hình như đối với một số người trẻ, nói được vài câu tiếng Anh hay nói tiếng Việt pha trộn tiếng Anh là một cách thể hiện “đẳng cấp” (dù chẳng biết đẳng cấp đó là gì!)

Teen (thật ra là “Teenager”) là chữ dùng để chỉ những em trong độ tuổi dậy thì đến tuổi 19. Tiếng Việt mình có chữ “thiếu niên” để chỉ những em trong độ tuổi dậy thì đến tuổi thiếu nữ hay thanh niên, tức là tương đương với teenager trong tiếng Anh. Còn hotgirl và hotboy thì thú thật tôi không rõ ở Việt Nam có ý nghĩa gì, nhưng trong tiếng Anh thì hotgirl dùng để chỉ những cô gái trong độ tuổi 14-27, xinh xắn, tự tin (có khi phách lối), và hấp dẫn (mà nam giới bắt buộc phải nhìn). Tôi nghĩ tiếng Việt có thể là “cô gái duyên dáng” hay “Gái có duyên”. Nói chung, tôi thấy tiếng Việt mình có những từ tương đương với danh từ tiếng Anh để diễn tả, và không có lí do gì mình phải dùng đến tiếng Anh.

Ấy thế mà những từ tiếng Anh đó lại xuất hiện khá thường xuyên trên báo Việt Nam! Nếu viết trên facebook hay blog thì tôi nghĩ việc dùng một chút tiếng Anh thì tôi còn có thể hiểu được, vì viết nhanh và mang tính cá nhân. Nhưng báo chí là một diễn đàn nghiêm chỉnh và mang tính giáo dục thì việc dùng tiếng Anh cùng đồng nghĩa với sự thiếu tôn trọng tiếng mẹ đẻ. Hi vọng rằng tôi không quá nặng lời.

Giới báo chí không phải là những người duy nhất truyền bá loại ngôn ngữ nửa nạc nửa mỡ, mà người dân, đặc biệt là giới trẻ, cũng thường hay dùng loại ngôn ngữ này. Có nhiều chuyện tiếng Việt “nửa nạc nửa mỡ” rất hài hước ở quê tôi. Quê tôi có nhiều người định cư ở nước ngoài, và trong số đó có người định cư theo diện kết hôn trong mấy năm gần đây. Làng tôi vẫn còn lưu truyền vài câu chuyện cười ra nước mắt. Cô nọ sau khi lấy chồng định cư ở Anh vài năm về thăm quê, cô vận cái váy ngắn và cái áo khoe những đường cong con gái ra chợ quê, nơi mà đa số bà con mặc áo bà ba. Cô ghé qua hàng bán rau và thấy trái me, cô đon đả hỏi: Dì hai ơi, trái này là trái gì vậy dì? Dì Hai biết quá cái cô này con ông Ba Th, mới đi nước ngoài có 2 năm thì làm sao quên tiếng Việt được, nên bực mình và buông một câu trả lời làm cô gái bỏ đi luôn: Ủa, con hổng biết trái này hả, ở quê mình gọi là cu Tây đó con! Dì Hai này thật đáo để! Câu chuyện này chắc chắn không phải xảy ra chỉ ở quê tôi mà có thể rất nhiều nơi khác. Nó là hiện tượng mà Thi sĩ Nguyễn Bính từng than:

Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

(Thật ra, trường hợp cô gái ở quê tôi thì đúng ra phải là “hương đồng gió nội” bay đi quá nhiều!)

Thật ra, trong nhiều tình huống cũng nên thông cảm cho những người dùng tiếng Anh. Có khi người ở nước nói tiếng Anh lâu và … thói quen. Thói quen này mang tính địa phương, và vì nó ngắn gọn, ai trong cộng đồng cũng hiểu. Chẳng hạn như nói đến “đi shopping” thì ai cũng hiểu là đi mua sắm ở các siêu thị (hay mall). Shopping không phải đơn giản là “đi chợ” theo ý nghĩa của tiếng Việt. Thành ra, dùng shopping là đơn giản nhất! Có khi cách nói ngắn Tây-Ta còn tuỳ thuộc vào văn hoá địa phương. Chẳng hạn như người Việt ở Úc, nói đến đi mua thức ăn “take away” nhưng bên Mĩ thì gọi là “Food to go”, thì ai cũng hiểu đó là đi mua thức ăn về nhà chứ không phải ăn ở quán. Thói quen đó lan truyền sang Việt Nam khi Việt kiều về thăm quê. Việt kiều về quê thỉnh thoảng quen cách nói nước ngoài nên dễ làm bà con dè bỉu rằng “mới đi có vài năm mà làm bộ làm tịch quên tiếng Việt”. Trong thực tế họ không có ý khoe khoang tiếng Anh đâu, mà chỉ vì thói quen mà thôi.


Khoảng ba mươi năm trước, một nhạc sĩ người Việt ở hải ngoại khi thấy cảnh người Việt tị nạn từ nhiều nước gặp nhau, mỗi người theo quán tính thốt lên những câu chào theo tiếng địa phương, anh viết:

Giờ đây, mỗi đứa con lạc loài mỗi nẽo
Đứa London, đứa Paris, đứa đèo heo gió hút
Gặp nhau từng hàng lệ xót xa, buông những câu chào

Đôi ba sinh ngữ, Bonjour, Au revoir, Hello, Good bye

Con gục đầu chua xót đắng cay.

Cá nhân người viết bài này biết người dưới quê khó tính, nên không bao giờ hay hạn chế đến mức thấp nhất việc dùng chữ Anh trong cách nói hàng ngày ở VN. Dù tự dặn mình như thế nhưng thỉnh thoảng tôi cũng chêm tiếng Anh trong giao tiếp, vì quán tính (nhưng tôi lúc nào cũng giải thích chữ mình nói có nghĩa là gì để bà con hiểu). Còn trên mặt báo thì tôi gần như không sử dụng tiếng Anh, hay có sử dụng những khái niệm mới thì cũng mở ngoặc giải thích để bạn đọc hiểu. Tôi nghĩ mình làm được thì các phóng viên, trên danh nghĩa là bậc thầy về chữ nghĩa, phải làm được chứ. Nếu họ không làm được thì tôi nghĩ chắc là do … lai căng. Viết đến đây tôi chợt nhớ đến một ca khúc của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, mà trong đó có câu:

Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của Mẹ, một bọn lai căng
Gia tài của Mẹ, một lũ bội tình